Thứ hai, 21/04/14 | 09:30 PM

Cập nhật:05:58:10 AM GMT

Bạn đang xem Viết theo yêu cầu bạn đọc Hổ cốt có tác dụng gì ? Theo y học cổ truyền

Hổ cốt có tác dụng gì ? Theo y học cổ truyền

Nhắc đến Hổ, người ta nghĩ ngay đến cao Hổ cốt - một được liệu cực quý mà từ ngày xưa các bậc vua chúa đã sử dụng để chữa bệnh và bồi bổ sức khỏe của mình. Vậy, cao Hổ cốt có thật sự “làm nên điều kỳ diệu” như người ta thường đồn thổi hay không?

Hổ – tên khoa học Panthera tigris L.  Họ mèo (Felidae) – có tên trong Danh sách những loài thú quý được bảo vệ nghiêm ngặt bởi số lượng Hổ trong tự nhiên ngày càng ít đi...

Theo tạp chí National Geographic Magazine thì Hổ được liệt vào loài dã thú đang lâm vào họa diệt chủng mặc dù đã có nhiều chương trình nhân giống và nuôi dưỡng... Sở dĩ có tình trạng này vì đã từ lâu, cao Hổ cốt nằm trong số những “món độc” mà người ta coi là “đại bổ” hoặc có tác dụng đặc biệt, như: Vi kỳ (vây) cá mập - mạnh gân cốt; Mật gấu trị bầm dập; Tổ yến ăn bổ phổi; Hải sâm ăn bổ âm, bổ dương; Thận hay dái dê, pín hải cẩu ăn cường dương, v.v…

Hổ cốt được liệt vào hàng dược liệu quí bậc nhất vì rất đắt và rất khó tìm - ngay cả khi trả một món tiền lớn, chưa chắc đã mua được Hổ cốt thật. Hiện tại, Hổ năm thì mười họa mới thấy, mà tên nó thì lại nằm trong Sách đỏ... - thì đâu phải dễ dàng có được bộ xương Hổ thật để nấu cao (?). Do đó,  phần lớn các loại “cao Hổ cốt” đang bán trên thị trường hiện nay phải gọi la “cao Ngưu cốt”, “cao Hầu cốt” hoặc “cao Miêu cốt” mới chính xác...

Theo tín lý thuốc Á đông thì cao Hổ cốt thật được thử bằng cách hoà một chút trong rượu rồi bôi vào cọng của lá tre, mang thả trên mặt nước, nếu chiếc lá quay tít là đúng. Nhưng, với điều kiện hiện nay thì những kẻ giả mạo có “chiêu” còn tuyệt hơn nữa: bôi một giọt Crésyl đậm đặc vào lá tre - khi thả xuống nước nó quay còn tít hơn (!); người ngoài nhìn thấy thế tin “sái cổ”, bởi cứ nghĩ cái cục cao nâu đen ấy đang chứa một chút tinh túy mãnh lực của Chúa sơn lâm (!

Nấu cao Hổ cốt phải dùng toàn bộ bộ xương con hổ, không để thiếu miếng xương nào. Bộ xương Hổ dùng để nấu cao tốt nhất là nặng từ 10 - 15kg (1kg xương Hổ nấu được độ 230g cao mềm). Người ta thường nấu xương Hổ lẫn với xương Sơn dương (tỷ lệ 1/5) - nếu được “ngũ Dương nhị Hổ” thì càng có công lực mạnh; hoặc nấu theo kiểu xương Hổ, Sơn dương và Khỉ mỗi loại 1 bộ, cộng thêm một số thảo dược khác sao cho đủ vị “quân-thần-tá-sứ” trong cao...

Riêng với Hổ, người ta cho rằng mọi bộ phận trên thân hình nó đều có thể trưng dụng làm thuốc cả, không bỏ thứ gì, nhưng duy chỉ có bộ xương là quí vì Hổ mạnh về bộ cốt. Xương Hổ nói chung trên thực tế thì chỗ nào cũng đều dùng được cả nhưng xương tốt nhất là xương đầu và  xương ống quyển chân (hĩnh cốt). Theo các chuyên gia hình thái học thì xương ống quyển phía trước của Hổ rất chắc và nặng, phần dưới có một cái rãnh dài đặc biệt - gọi là “phượng nhãn” - là đặc điểm để phân biệt thật giả. Còn xương quay chân sau thì rất mỏng. Xương tay hơi vặn ở khuỷu, có một lỗ “thông thiên” - đặc điểm này dùng phân biệt xương hổ, xương beo với các xương khác; răng hàm có hình chữ “tam sơn”. Hĩnh cốt của hổ có màu vàng nâu với những đường chạy dọc, sờ mịn tay. Cưa ngang thì thấy màu xương vàng hơi đen, có lỗ tủy nhỏ giống như lõi mướp khổ qua  là tốt nhất. Đặc biệt xương Hổ rất chắc, nặng nhưng cưa lại rất dễ. Xương không dính thịt mới là tốt. Muốn xương tróc sạch thịt người ta phải ngâm bộ xương hàng tuần, thậm chí hàng tháng dưới suối. Xương Hổ được đánh vỡ để rửa sạch tủy. Tùy cách bào chế, xương Hổ có thể tẩm với một vào loại nước lá thảo dược và sao cho vàng trên lửa than.

Hổ cốt đã được nhiều sách phương Tây nhắc đến từ rất lâu như trong quyển Materia Medica et Pharmacopée Sino- Annamite (Bản thảo và Dược điển Hoa-Việt) của Perrot E. và Hurrier P. (xuất bản tại Paris 1907) cho rằng đó không những là phương thuốc của Trung Hoa mà còn của An Nam nữa. Theo sách này thì xương Hổ đực màu vàng là tốt nhất; đồng thời, Hổ phải bị bẫy hay bắn bằng súng chứ không dùng tên tẩm thuốc độc bởi vì thuốc độc sẽ rút vào máu và nhiễm vào xương, dùng có hại. Tác giả còn lưu ý rằng phụ nữ có thai dùng thì bị sinh khó.

Về dược tính thì xương Hổ có vị chua, tính hơi ấm và không độc trong khi thịt Hổ cũng có vị chua, nhưng tính lại bình. Xương Hổ có năng lực khu phong (trục gió, trấn thống (trừ đau nhức), kiện cốt (mạnh xương), và  trấn kinh (bình thần kinh), làm lành các vết thương lâu lành hay lở loét nặng, trị chứng phong thấp, bắp thịt bị co rút. Ngoài ra, xương Hổ còn trị đau bụng, thương hàn, sốt rét, sợ nước, trị kiết kinh niên, sa hậu môn, trị hóc xương ở cuống hầu. Xương Hổ nấu nước tắm để trị sưng khớp vì phong thấp cho người lớn, còn hài nhi sơ sinh thì tắm ngừa được nhiễm trùng, làm kinh, ghẻ chốc, đau vặt chậm lớn, khóc vì kinh hãi do quỉ ma bắt. Còn nếu đem ngâm rượu thì đắp trị đau ở đầu gối. Xương Hổ nghiền bột để đắp phỏng hay những chỗ lở dưới móng chân cái (hoặc trị tê liệt theo Regnault)...

Lưu ý: những người bị chứng huyết hư hỏa vượng (nóng do khô huyết dịch) thì tuyệt đối không nên dùng.

Trong thực tế hiện nay, Hổ được bảo vệ nghiêm ngặt nên việc tìm mua một vài lạng cao Hổ cốt “thật” - gần như là việc không tưởng. Vì vậy, người ta có thể dùng một số loại cao khác phối hợp với nhau để thay thế cho cao Hổ cốt mà vẫn đạt được hiệu quả trị bệnh, bồi bổ sức khỏe tương đương...

Song Min

(tổng hợp)