Thứ tư, 23/04/14 | 09:31 PM

Cập nhật:05:58:10 AM GMT

Bạn đang xem Thực phẩm & Đời sống Ý kiến nhà chuyên môn Nhiệm vụ phòng chống suy dinh dưỡng giai đoạn 2008-2010: Yêu cầu, các định hướng chiến lược và giải pháp can thiệp

Nhiệm vụ phòng chống suy dinh dưỡng giai đoạn 2008-2010: Yêu cầu, các định hướng chiến lược và giải pháp can thiệp

Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng đã trở thành chương trình hành động và cam kết của nhiều diễn đàn quốc tế. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và UNICEF đã đưa ra mục tiêu phấn đấu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em xuống 15% vào năm 2015. Tuy nhiên mục tiêu này khó có thể đạt được một cách dễ dàng, vì giảm suy dinh dưỡng không chỉ phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế, giảm bớt đói nghèo mà còn phụ thuộc nhiều vào những nỗ lực làm thay đổi nhận thức và hành vi của cộng đồng.

Chưa bao giờ các vấn đề về dinh dưỡng lại được quan tâm như hiện nay. Rõ ràng không phải phòng chống suy dinh dưỡng chỉ được chú trọng trong điều kiện thiếu ăn mà ngay cả khi an ninh thực phẩm đã cải thiện hơn, thì công tác phòng chống suy dinh dưỡng càng cần đựơc quan tâm nhiều hơn. Sở dĩ như vậy là vì cải thiện dinh dưỡng đòi hỏi đồng thời phải giải quyết nhiều yếu tố kết hợp trong đó cải thiện văn hoá nuôi dưỡng là mấu chốt - song là một quá trình, không thể trong ngày một ngày hai. Mặt khác suy dinh dưỡng để lại hậu quả lâu dài, qua nhiều thế hệ, qua đó hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng cần liên tục, duy trì.

Mặc dù Việt Nam được WHO và UNICEF đánh giá là quốc gia duy nhất có tốc độ giảm suy dinh dưỡng nhanh chóng khu vực trong suốt 6 năm qua, song hiện vẫn nằm trong nhóm nước có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao và hay dao động theo vùng địa lý và tình trạng kinh tế - xã hội. Điểm đáng lưu ý là tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi còn rất cao và việc cải thiện tăng trưởng chiều cao của trẻ em Việt Nam, là vấn đề đầy thách thức. Theo tính toán gần đây, suy dinh dưỡng ở nước ta làm giảm 5% GDP hằng năm. Các tính toán cũng chứng minh rằng, đầu tư cho dinh dưỡng là một đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Không chỉ là ý nghĩa kinh tế, phòng chống suy dinh dưỡng còn mang một ý nghĩa xã hội quan trọng ở chỗ thể hiện chủ trương của Đảng nhằm bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng, bảo đảm trẻ em ở các vùng khó khăn cũng được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em (SDDTE), đặc biệt làm giảm suy dinh dưỡng ở những vùng khó khăn nơi mà tỷ lệ SDDTE còn ở mức rất cao như Tây Nguyên, Tây Bắc không chỉ đóng góp vào vịêc cải thiện sức khoẻ, giảm tử vong bệnh tật mà còn đóng góp thiết thực vào phát triển cộng đồng ở các vùng đó.

Chính vì thế, việc duy trì và tăng cường công tác phòng chống SDDTE đã được ghi trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và trở thành mục tiêu hành động của các cấp chính quyền, ban ngành.

Các định hướng chiến lược mới của Chương trình phòng chống SDDTE giai đoạn 2008-2010:

Trong giai đoạn tới, các định hướng chiến lược của chương trình tập trung vào các điểm sau đây:

* Chiến lược chăm sóc sớm:

Chiến lược này coi việc chăm sóc dinh dưỡng cần được bắt đầu từ bà mẹ trước khi có thai, trong thời gian có thai đề phòng suy dinh dưỡng bào thai, mọi trẻ em cần được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt ngay từ khi sinh. Đặc biệt chú trọng chăm sóc dinh dưỡng trong 02 năm đầu tiên của cuộc đời. Như vậy chiến lược chăm sóc sớm đòi hỏi các hoạt động chăm sóc dinh dưỡng thực hiện cho mọi đứa trẻ và mọi bà mẹ.

* Chiến lựơc ưu tiên đặc thù:

Chiến lược này gồm các can thiệp đặc thù dựa trên phân tích tình hình thực tế từng địa phương, theo đó cần tập trung các ưu tiên cam thiệp nhằm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở các vùng khó khăn, can thiệp dinh dưỡng khẩn cấp khi cần và dự phòng thừa cân, béo phì ở một số khu vực. Như vậy, hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng sẽ không giống nhau cho các vùng như thời gian trước đây.

* Chiến lược cải thiện dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời:

Chiến lược này dựa trên sự thừa nhận các bằng chứng khoa học về mối liên hệ chặt chẽ, liên tục và tình trạng dinh dưỡng, hậu quả đối với sức khoẻ của nó trong suốt các giai đoạn của cuộc đời. Rõ ràng là các can thiệp dinh dưỡng cần mở rộng trên các đối tượng khác nhau, kể cả học sinh và vị thành niên. Chiến lược này đòi hỏi các hoạt động dinh dưỡng cần áp dụng cho mọi thành viên trong gia đình. Dựa trên các định hướng chiến lược này, các hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng có những thay đổi về ưu tiên cao cho bà mẹ và trẻ em dưới 2 tuổi, ưu tiên địa phương trọng điểm và mở rộng tới mọi thành viên gia đình. Mục tiêu chung là cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em về cân nặng chiều cao, giảm suy dinh dưỡng xuống mức trung bình theo phân loại của WHO, thanh toán suy dinh dưỡng mức rất cao ở tất cả các vùng sinh thái, khống chế vấn đề thừa cân/béo phì ở trẻ em. Phấn đấu đến năm 2010, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân trên cả nước xuống dưới 20%, giảm suy dinh dưỡng thể thấp còi xuống 20%, thanh toán tỷ lệ suy dinh dưỡng (thể nhẹ cân) trên 30% ở tất cả tỉnh và vùng sinh thái trên cả nước, đồng thời khống chế tỷ lệ trẻ bị thừa cân trên cả nước dưới 5%.

Để đạt được các mục tiêu đầy thâch thức trên, chương trình đã đề ra 5 giải pháp chính như sau:

* Thực hiện chăm sóc dinh dưỡng và sức khoẻ cho bà mẹ, cải thiện tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ:

- Thực hiện giáo dục dinh dưỡng cho mọi phụ nữ và các cặp vợ chồng mới kết hôn về dinh dưỡng hợp lý ở bà mẹ và trẻ em (kết hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, bắt đầu từ năm 2007).

- Thực hiện bổ sung đa vi chất dinh dưỡng cho phụ nữ có thai ở các vùng đặc biệt khó khăn kết hợp với hoạt động giáo dục, tư vấn dinh dưỡng (từ năm 2006).

- Hướng dẫn để mọi phụ nữ có thai được uống viên sắt, axít folic ngày từ khi có thai và một tháng sau sinh.

- Thực hiện theo dõi cân nặng ít nhất 3 lần trong thời gian có thai, theo dõi chính xác cân nặng sơ sinh của trẻ tại các cơ sở y tế, nhà hộ sinh, bệnh viện.

- Hướng dẫn bà mẹ sử dụng các thực phẩm tăng cường sắt, axít folic.

* Thực hiện tốt kế hoạch hành động quốc gia về nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trong phòng SDDTE:

- Thực hiện cho trẻ đẻ ra bú sớm trong nửa giờ đầu và bú hoàn toàn bằng sữa mẹ 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú mẹ đến 24 tháng.

- Hướng dẫn cách chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ khi bị bệnh và sau khi mắc bệnh.

- Thí điểm áp dụng việc giới thiệu thức ăn bổ sung chế biến sẵn (bán công nghiệp) có tăng cường vi chất dinh dưỡng tại một số địa phương theo phương thức có sự tham gia của cộng đồng (từ năm 2007)

- Phổ biến, hướng dẫn thực đơn và ăn uống theo thực đơn đối với trẻ em tại các nhà trẻ, mẫu giáo (từ năm 2008)

- Cải thiện thực hành vệ sinh tại gia đình: vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và vệ sinh thực phẩm.

* Cải thiện tình trạng vi chất dinh dưỡng của trẻ em:

- Duy trì bổ sung vitamin A liều cao cho trẻ em (mở rộng đến 60 tháng tuổi) kết hợp với tẩy giun định kỳ tại 18 tỉnh khó khăn và mở ra toàn quốc vào năm 2010.

- Bổ sung kẽm cho trẻ em khi mắc tiêu chảy kéo dài theo phác đồ của WHO (từ năm 2008)

- Đưa vào kế hoạch ngân sách thường xuyên của Nhà nước cho mua viên nang vitamin A, viên sắt/axít folic và viên đa vi chất dinh dưỡng theo hướng bổ sung mở rộng theo khuyến cáo của WHO.

* Đẩy mạnh giáo dục về dinh dưỡng, khuyến khích tạo nguồn thực phẩm tại chỗ và sử dụng trong cải thiện bữa ăn của bà mẹ và trẻ em:

- Tăng cường hoạt động tạo nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng tại chỗ từ vườn - ao - chuồng của hộ gia đình (hoạt động thường xuyên).

- Triển khai các kỹ thuật chế biến, bảo quản nông sản, thực phẩm ở quy mô hộ gia đình (từ năm 2008)

- Hướng dẫn chế biến trong bữa ăn và thức ăn bổ sung của trẻ em (hoạt động thường xuyên)

- Đưa nội dung giáo dục dinh dưỡng vào trong trường học (mầm non và tiều học, từ năm 2009).

* Xã hội hoá công tác phòng chống suy dinh dưỡng:

- Tiếp tục duy trì hệ thống chỉ đạo và các ban ngành phối hợp tại các cấp như giai đoạn 2001-2005.

- Tăng cường phối hợp liên ngành, huy động sự tham gia của mọi ngành và toàn xã hội. Phòng chống suy dinh dưỡng là trách nhiệm của toàn xã hội, coi kết quả cải thiện dinh dưỡng là đầu ra của các hoạt động xoá đói giảm nghèo.

- Huy động nguồn lực, duy trì và đầu tư thêm kinh phí từ nguồn Trung ương và đẩy mạnh hỗ trợ từ ngân sách địa phương, phấn đấu kinh phí hỗ trợ từ ngân sách các tỉnh đạt 50% ngân sách Trung ương (hiện đại đạt 33%). Huy động thêm kinh phí từ cấp huyện, xã và cộng đồng.

- Hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế: tăng nguồn hỗ trợ của UNICEF và các tổ chức quốc tế.

- Kinh phí từ các tổ chức xã hội: phối kết hợp với các tổ chức xã hội: quỹ bảo trợ trẻ em, Hội chữ thập đỏ, chương trình xoá đói giảm nghèo và các tổ chức kinh tế.

Chương trình phòng chống SDDTE luôn đòi hỏi sự cam kết mạnh mẽ của các cấp uỷ Đảng, chính quyền sự tham gia của các gia đình và toàn xã hội. Đồng thời các giải pháp bứt phá về mặt can thiệp của ngành y tế như đã nêu trên có một vai trò cực kỳ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả các can thiệp để đạt được các mục tiêu vào năm 2010 đã đề ra.

PGS.TS. Nguyễn Công Khẩn

(Viện trưởng Viện dinh dưỡng Quốc gia)