Thứ sáu, 15/12/17 | 04:50 PM

Cập nhật:05:58:10 AM GMT

Bạn đang xem Sức khỏe cộng đồng Người cao tuổi và Vitamin nhóm B

Người cao tuổi và Vitamin nhóm B

Vitamin nhóm B gồm 6 loại, có thể hòa tan trong nước, rất cần thiết cho sức khỏe của mọi lứa tuổi; trong số đó vitamin B6 và B12 được ưu tiên lựa chọn để giúp người cao tuổi chống lại bệnh trầm cảm...

Trầm cảm ở người cao tuổi là một chứng bệnh tâm lý, có những biểu hiện buồn bã, cảm giác thất vọng, mất linh động, thậm chí mất tự tin ở bản thân... Trầm cảm ảnh hưởng không chỉ đến tính khí, suy nghĩ, thái độ mà còn tới cả những chức năng khác của cơ thể. Người cao tuổi rơi vào tình trạng này sẽ dễ dàng mắc các bệnh viêm nhiễm do hệ miễn dịch bị suy yếu.

Thông qua một nghiên cứu kéo dài hơn 12 năm, các nhà nghiên cứu đã đánh giá những tác dụng của vitamin B6, B9, B12 đối với hội chứng trầm cảm của 3.503 người ở độ tuổi trên 65, sống trong các nhà dưỡng lão hay hưu trí... Kết quả cho thấy có mối liên quan với bệnh trầm cảm  nặng khi hàm lượng vitamin B6 và B12 thấp trong chế độ ăn. Ngược lại, mỗi đợt tăng liều từ 10mg vitamin B6 và 10µg vitamin B12 có thể  giảm mỗi năm 2% tỷ lệ các triệu chứng trầm cảm. Tuy nhiên, họ lại không tìm thấy mối tương quan giữa chế độ ăn uống có folate (vitamin B9) và chứng trầm cảm.

Vitamin B6

Được phát hiện năm 1934 bởi nhiều nhóm nghiên cứu làm việc độc lập; sau đó vitamin B6 được tổng hợp vào năm 1939, với một cái tên khác là pyridoxin. Vài năm sau, một nhà nghiên cứu khác đã khám phá thêm hai dạng khác của vitamin này là pyridoxal và  pyridoxamin.

Một trong những công năng của vitamin B6 là tác dụng ngăn ngừa và phòng chống các bệnh tim mạch -  đối với người có hàm lượng tiêu thụ B6 (từ thức ăn hay viên bổ sung) trung bình 4,6 mg/ngày, thì mức độ nguy cơ mắc bệnh tim mạch ít hơn.  Song song đó, vitamin B6 hỗ trợ rất tốt đối với hệ thần kinh - người ta thường dùng B6 để tăng cường năng lượng hoặc chống lại stress. B6 cũng thường được kết hợp với magné để trị căn bệnh tự kỷ. B6 cũng cần thiết cho việc trao đổi protein trong cơ thể người, hoạt động của hệ thần kinh và hệ miễn dịch, sự tổng hợp của hormon và tế bào máu...

Có thể tìm thấy vitamin B6 trong các loại thực phẩm như: gà tây, thịt gia cầm, cá thu, gan bò, gan bê, cá hồi, cá mòi, mực nang, khoai tây, đậu lăng, chuối, hạt lanh, nấm linh chi, ngũ cốc...

Vitamin B12

Được phát hiện bởi 2 nhà bác học  Thomas Addison và Michael Anton Biermer ở thế kỷ thứ 19, xuất phát từ việc tìm kiếm những giải pháp điều trị hữu hiệu đối với bệnh thiếu máu gây tử vong. Năm 1920 , George Whipple, George Minot và William Murphy (giải Nobel  Y học 1934) công bố: chiết xuất từ gan (có chứa vitamin B12) có khả năng chữa nhiều trường hợp thiếu máu.

Cũng như các vitamin K2 và D, là những vitamin tổng hợp nội sinh, vitamin B12 được tổng hợp bởi các vi khuẩn đường ruột. Do vậy, có 3 trường hợp dẫn đến nguy cơ thiếu vitamin B12:

* Khi mắc các bệnh lý đường ruột (tiêu chảy mãn tính, táo bón mãn tính với bụng đầy hơi nhiều, ...).

* Khi cấu trúc mô học của ruột non bất thường và không thể hấp thụ vitamin B12, như trường những người bị bệnh tự miễn (bệnh Crohn, không dung nạp gluten).

* Khi các yếu tố trung gian nội tại giúp hấp thụ vitamin B12 không được điều tiết một cách bình thường từ dạ dày, như trong bệnh thiếu máu ác tính (bệnh tự miễn). Ngoại trừ 3 trường hợp kể trên thì việc bổ sung vitamin B12  là không bắt buộc.

Thiếu vitamin B12 khá phổ biến ở người cao tuổi nhưng dễ bị bỏ sót do biểu hiện lâm sàng thường không đặc hiệu. Vitamin B12 có thể làm giảm hàm lượng homocysteine trong cơ thể, qua đó giúp phòng chống hội chứng mất trí nhớ ở người già. Nếu thiếu vitamin B12, sẽ xuất hiện sự tổn thương hệ thống thần kinh và não bộ dẫn tới các chứng bệnh liên quan đến thần kinh như hay phát cáu, tình cảm không ổn định, thờ ơ với sự việc, mất ngủ, đa nghi, trầm cảm, giảm trí lực và mất trí nhớ...

Để bổ sung, ngoài nguồn từ động vật (có nhiều trong gan, trứng gà và vịt lộn), có thể tìm thấy vitamin B12  trong bắp cải muối chua và tất cả các loại thực phẩm thực vật lên men như tương đậu nành (miso, tamari, shoyu), rong spirulin, men bia...

Nghiên cứu này cũng kết luận rằng: hàm lượng tối thiểu được có tác dụng "bảo vệ" là 2,4 mg/ngày  với vitamin B6 và 10,9 µg/ngày với vitamin B12, nhiều hơn so với nhu cầu đang được khuyên dùng (Recommended Dietary) cho những người trên 75 tuổi (2,2 mg/ngày với vitamin B6 và 3µg/ngày với vitamin B12).

Như vậy, để người cao tuổi có cuộc sống tâm lý ổn định, ngoài những chăm sóc về tình cảm, còn cần phải chú ý bổ sung đủ  các loại vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin B6 và B12.

vitaminb1

Hoàng Tùng (tổng hợp)